Du nhập
Giống nho vinifera cùng các phương pháp chế biến rượu vang từ nó, được người Tây Ban Nha mang đến châu Mỹ vào giữa Thế kỷ 16. Nhà thám hiểm Hernán Cortés đã đem những cành nho, mà đúng hơn có thể là những hạt nho, trực tiếp từ Tây Ban Nha sang Mexico. Những chai rượu vang Nam Mỹ đầu tiên đã được làm ra từ đó.
Tuy vậy, không ai biết chắc những cây nho đầu tiên trồng Chile vào khoảng những năm 1550 được chuyển sang từ Mexico, hay được mang trực tiếp từ Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha tới cả. Những cây nho được mang tới trồng bởi những người mới đến Nam Mỹ định cư muốn sử dụng rượu vang cho các Lễ Thánh của mình. Tài liệu ghi lại những giống nho đầu tiên được trồng gồm có Muscatel, Torontel, Albilho, Mollar, và một loại nho đỏ phổ thông nào đó.
Những vườn nho đầu tiên
Một số vườn nho đầu tiên bị phá hoại bởi các thổ dân Anh Điêng, chủ yếu ở các khu vực Miền nam đất nước. Mặc dù vậy tại thủ đô Santiago, việc sản xuất nho diễn ra liên tục trong vòng hơn bốn thế kỷ. Vào thế kỷ 17, chính quyền Tây Ban Nha đã cố gắng bảo hộ ngành xuất khẩu rượu vang sang Nam Mỹ bằng cách ban hành lệnh cấm trồng các vườn nho mới. Tuy nhiên điều này không đạt được nhiều kết quả. Vào năm 1678, thị trưởng Chile đã đề xuất dỡ bỏ lệnh cấm này đồng thời khuyến khích mở rộng các vùng trồng nho nhằm tạo ra các trang trại mới. Vào Thế kỷ 18, rượu vang Chile đã trở nên nổi tiếng thế giới với chất lượng và giá cả phải chăng. Điều đó diễn ra đúng như những lo ngại của các nhà sản xuất rượu Tây Ban Nha.
Thế kỷ 19
Các giống nho được canh tác và kỹ thuật sản xuất rượu vang Chile hồi đầu Thế kỷ 19 đã được ghi chép lại rất kỹ. Có thể nói là chúng khá sơ đẳng theo tiêu chuẩn hiện đại ngày nay. Rượu vang Chile khi đó thường được làm ngọt thêm, chẳng hạn với nước ép nho cô đặc đun sôi. Chile đã cực kỳ may mắn vào thời đó, khi Claudio Gay, một quý ông người Pháp thuyết phục chính phủ Chile thiết lập vùng Quinta Normal, một khu vực bảo tồn tất cả các giống cây bản địa quý, bao gồm các giống nho có nguồn gốc Châu Âu. Điều này có nghĩa Chile có một kho lưu trữ các gốc nho Vinifera của riêng mình, được bảo vệ trong một khu vực cách ly nghiêm ngặt, trước khi các đại dịch sâu bệnh khủng khiếp cuối thế kỷ 19, như bệnh phấn trắng hay rệp ăn rễ nho, lan đến. Mặc dù vậy, các công ty tư nhân mới đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ngành công nghiệp rượu vang cả nước.
Hiện đại hoá
Lúc này, khi đã giành độc lập khỏi Tây Ban Nha, những người Chile giàu có mới bắt đầu du lịch và trải nghiệm thế giới rộng lớn bên ngoài. Họ có dịp thưởng thức những chai rượu vang tuyệt hảo châu Âu với hương vị khác biệt hoàn toàn so với thứ vang đồng quê làm từ nho Pais hay nho Moscatel mà họ vẫn uống. Một trong những người đó là Silvestre Ochagavía Echazarreta. Ông đã hợp tác với một nhà thổ dưỡng học người Pháp để nhập về Chile một loạt các giống nho mới, mà ngày nay chúng là những giống nho kinh điển và được kính trọng trên toàn thế giới.
Chính những gốc nho này đã tạo nên cơ sở cho nền công nghiệp rượu vang Chile hiện đại. Một tầng lớp các nông dân quý tộc xuất hiện ở Chile, trong số ấy có những người với gia sản kếch sù. Việc sở hữu một vườn nho trên một mảnh đất màu mỡ ngoại ô Santiago là biểu tượng của sự thành công ở Chile hồi giữa thế kỷ 19.
Chẳng bao lâu sau Chile trở thành nước sản xuất rượu vang tăng trưởng duy nhất trên thế giới, cả về mặt chất lượng lẫn doanh thu. Trong khi hầu hết các quốc gia sản xuất rượu vang khác đều bị tàn phá nặng nề bởi dịch phấn trắng và rệp ăn rễ cây, ngành công nghiệp rượu vang Chile chẳng hề chịu ảnh hưởng gì. Với lợi nhuận quá lớn, lại chủ yếu nằm trong tay tư nhân trong khi mức tiêu thụ rượu vang trên đầu người cao, ngành sản xuất rượu vang Chile bị đánh thuế ngày càng tăng và bị chèn ép một cách phi lý vào đầu thế kỷ 20.
Khủng hoảng và hồi sinh
Nhu cầu nội địa đối với các loại rượu vang Chile phổ thông sụt giảm và giá rượu vang tụt dốc vào những năm 1970 và đầu những năm 1980. Khoảng hơn một nửa diện tích trồng nho bị phá bỏ, kể cả những khu vực có khí hậu cực kì thuận lợi cho việc trồng nho. Sự bất ổn về kinh tế và chính trị của Chile đã kìm hãm sự phát triển của ngành công nghiệp tiềm năng này.
Mãi cho đến khi các chính sách thị trường tự do được thiết lập, cùng với sự trở lại của chế độ dân chủ vào những năm 1980, ngành sản xuất rượu vang Chile mới được hồi sinh trở lại. Giữa năm 1987 và 1993, hơn 10.000 hecta đất trồng nho đã được canh tác với các chủng nho nổi tiếng thế giới. Các khoản tiền đầu tư đáng kể được đổ vào công nghệ sản xuất rượu vang. Toàn bộ trọng tâm của nền công nghiệp rượu vang Chile được chuyển từ “số lượng” cho thị trường nội địa sang “chất lượng” cho các thị trường xuất khẩu.
Kỹ thuật canh tác
Nói chung, các vườn nho Chile được trồng trên những vùng đất phẳng, màu mỡ với nguồn nước tự nhiên đầy đủ hoặc thông qua tưới tiêu, vì thế hệ thống rễ nho mọc tương đối nông. Các loại đất phù sa chiếm chủ yếu, phổ biến ở Aconcagua và cũng xuất hiện ở Maipo, mặc dù ở đó cũng có đất sét và đất mùn. Ở vùng Maipo và huyện Cachapaol thuộc phía bắc Rapel, đất trồng nho là hỗn hợp của đất sét, đất mùn và cát, một số vùng có thể bị ảnh hưởng bởi xói mòn đất do địa hình nằm trên sườn dốc. Đá phấn được tìm thấy trong đất một số nơi thuộc phía nam Rapel và ở Maule, trong khi đất núi lửa trải dài từ phía nam Curico tới khu vực Bio-Bio, chỉ bị ngắt quãng bởi vùng cát và đất mùn quanh khu vực Linares. Một số nơi thuộc Cachapoal, Colchaqua và khu Miền Nam chịu lụt khá nặng nề, có thể hình thành các khu vực đầm lầy, và do đó không cần tưới.
Tưới tiêu
Tưới tiêu là một nhiệm vụ thiết yếu tại hơn một nửa số vùng trồng nho ở Chile. Cũng như ở Argentina, điều này được thực hiện nhờ vào băng tuyết tan chảy trên núi Andes, theo đó nước đổ về hệ thống kênh rạch sông ngòi. Hệ thống tưới nhỏ giọt chỉ được giới thiệu vào đầu những năm 1990. Do nguồn cung cấp nước dồi dào và sẵn có, hầu hết các vườn nho được tiếp cận đầy đủ nước trong cả vụ thu hoạch. Những vùng được tưới tiêu nằm chủ yếu ở phía Bắc thung lũng Central, ở bên trong các khu vực Aconcagua, Maipo, Rapel, Maule và Curico. Trên sườn dốc giáp biển của các khu vực phía nam, lượng mưa tự nhiên thường đủ nên không cần phải tưới thêm.
Thu hoạch nho trung bình ở Chile là vào khoảng 4 tấn một mẫu. Nếu tưới nước nhiều quá, các loại nho cho năng suất cao ấy sẽ khó chín. Điều này đặc biệt đúng với những chủng nho có thời điểm chín tương đối muộn, chẳng hạn như Cabernet Sauvignon hay Carménère.
Bón phân
Bón phân cũng thường được sử dụng, tuy nhiên phải điều chỉnh hợp lý để tránh cây phát triển quá mức dinh dưỡng. Ở các khu vực có kỹ thuật canh tác phát triển, người ta sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt để thực hiện việc bón phân kèm theo.
Kỹ thuật cắt, tỉa, uốn giàn
Các kỹ thuật trồng nho tiêu chuẩn của người Tây Ban Nha, chẳng hạn như trồng theo bụi thẳng đứng, sau đó uốn thành những dạng xoắn tròn, đã phổ biến từ khi người Tây Ban Nha chinh phục vùng đất này. Tuy nhiên ngày nay chúng thường chỉ giới hạn trong việc sản xuất vang Pais, chủ yếu ở phía Nam.
Những người nhập cư Bordeaux sau đại dịch rệp ăn rễ nho đã mang đến Chile kỹ thuật bắc giàn nho vào cuối thế kỷ 19. Điều này góp phần tạo nên hai hướng phát triển khác nhau. Đầu tiên, các loại nho mọc thấp và sát nhau sẽ được tỉa hay xén mắt với độ dày gấp đôi, chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng của nho thành phẩm. Điều thứ hai, phổ biến trong việc sản xuất các loại vang phổ thông, đó là các cây nho được trồng cách xa nhau hơn. Điều này cho phép áp dụng cơ khí hoá vào canh tác. Vào những năm 1990, hầu hết các cây nho trồng mới đều trồng theo hàng dài, hẹp, cách nhau từ 2 đến 2.5 mét, trong đó các cây nho trồng cách nhau khoảng 1.2 đến 1.5 mét.
Thu hoạch
Thu hoạch nho bắt đầu vào cuối tháng Hai với các chủng nho chín sớm như Chardonnay, tiếp tục cho tới cuối tháng Tư với Cabernet Sauvignon và có thể kéo dài tận tới tháng Năm với Carmenere.
Phòng trừ sâu bệnh
Không có người trồng nho Chile nào cảm thấy cần phải nghiên cứu về ngành rễ cây, bởi quốc gia này miễn nhiễm khỏi nạn rệp ăn rễ nho (phyloxera). Một số dự án ghép gốc nho được tiến hành, tuy nhiên nhằm giúp các loại nho du nhập thích nghi với thổ nhưỡng mới. Các vườn nho ở Chile phổ biến loại giun tròn, và sức chống chịu của các chủng nho du nhập thấp hơn nhiều so với chủng nho Mỹ, do đó nhà chức trách gợi ý việc ghép chúng lên các gốc nho Mỹ sẽ giúp xử lý vấn đề này.
Có thể Chile nổi tiếng với việc không có rệp ăn rễ nho, tuy nhiên dịch Phấn trắng và các loại nấm gây hại là vấn đề nhức nhối và tốn kém nhiều chi phí cho người trồng nho nơi đây. Dịch phấn trắng xuất hiện lần đầu tiên ở một số vùng trồng nho vào mùa trồng nho năm 1997-1998 do ảnh hưởng của El Nino. Tuy nhiên, việc thiếu mưa vào mùa hè khiến cho việc lan tràn dịch bệnh ít xảy ra hơn so với nhiều khu vực khác.
