Rượu vang Chile

Xem thêm tất cả các loại vang Chilehttps://thinhvang.com/danh-muc/vang-chile/

 

TÌM HIỂU VỀ RƯỢU VANG CHILE

Giới thiệu chung


Chile là một nước Nam Mỹ có địa hình dài và hẹp chạy dọc theo sườn tây dãy núi Andes. Rượu vang Chile nổi tiếng trong làng rượu vang Tân Thế Giới với các sản phẩm vang đơn chủng chất lượng, giá cả phải chăng.

Những thực dân Tây Ban Nha đầu tiên đã đem các giống nho đến đây trồng vào giữa Thế kỷ 16. Tuy nhiên Pháp mới là quốc gia có ảnh hưởng lớn hơn đến sự hình thành nền công nghiệp rượu vang Chile. Những mùa hè khô hạn ở Chile giúp cho quốc gia này miễn nhiễm khỏi sự tàn phá của loài rệp ăn rễ nho cùng nhiều loại sâu bệnh khác. Khí hậu thuận lợi cùng với nguồn nước tưới dồi dào cũng góp phần hạ thấp chi phí sản xuất của rượu vang Chile, trong khi vẫn đảm bảo sản phẩm có chất lượng cao so với các dòng vang Pháp, vang Ý,…

Vào những năm 1990, rượu vang Chile xuất khẩu hầu như chỉ là các dòng vang đơn chủng, trong đó chủ yếu là giống nho Cabernet Sauvignon. Tuy nhiên ngày nay, hàng loạt công nghệ và kỹ thuật sản xuất rượu vang hiện đại được du nhập vào Chile đã tạo nên các chủng loại rượu vang vô cùng phong phú.

Ngành công nghiệp sản xuất rượu vang Chile đã sụt giảm một cách đáng kể vào những năm 1980. Tuy nhiên nó đã hồi sinh ngoạn mục vào năm 1991, khi Chile mở cửa thị trường tự do. Năm 2015, Chile là nước xuất khẩu rượu vang lớn thứ 4 trên thế giới, với sản lượng chỉ sau Pháp, Ý, Tây Ban Nha, những quốc gia có truyền thống lâu đời về sản xuất rượu vang [1].

Phong cách rượu vang Chile và hệ thống phân loại


Phong cách rượu vang Chile

Các loại rượu vang nhập khẩu từ Chile, nói chung có vị hoa quả cực kỳ rõ nét. Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990, máy móc, công nghệ bắt đầu được đầu tư để tạo ra các loại vang với độ sánh và cấu trúc tinh tế như các loại vang hảo hạng của Pháp ủ trong thùng gỗ sồi. Sản lượng vẫn tương đối cao, mặc dù vẫn có những khu vực với nho lâu năm cho ra các loại vang đậm đặc có khả năng tiếp tục lên men trong chai.

Chile có lẽ nổi tiếng với việc tạo nên giống nho Cabernet Sauvignon đẳng cấp thế giới. Thậm chí những tín đồ cuồng nhiệt còn khẳng định có những niên vụ, nho Cabernet Sauvignon ở đây còn có chất Bordeaux hơn cả ở Bordeaux. Ngoài ra, bất cứ ai quen thuộc với các loại rượu vang Chile sẽ không ngạc nhiên khi nghe nói đến Carmenere, một loại nho có độ sánh trung bình.

Vào những năm 80, Chile đã tung ra chiến lược xoay quanh thị trường Mỹ với 4 giống nho chính – Cabernet Sauvignon, Chardonnay, MerlotSauvignon Blanc, khiến người dân Mỹ say mê những chai vang không những dễ uống mà còn có giá cả vô cùng hợp lý. Cho đến ngày nay, Hoa Kỳ vẫn là nhà nhập khẩu hàng đầu của rượu vang Chile.

Hệ thống phân loại rượu vang Chile

Rượu vang Chile thường chia làm 6 cấp độ, có tiêu chuẩn từ thấp đến cao, như sau [2]:

  1. Varietal hay Classico: Loại vang trẻ, chất lượng vừa phải, có thời gian ngâm ủ (không trong thùng gỗ sồi) từ 3-6 tháng kể từ khi thu hoạch nho. Nếu bảo quản tốt có thể sử dụng trong thời hạn dưới 2 năm.
  2. Selection: Loại vang trẻ, chất lượng cao hơn 1 chút, cũng có thời gian ngâm ủ (thường không trong thùng gỗ sồi) từ 3-6 tháng kể từ khi thu hoạch nho. Nếu bảo quản tốt có thể sử dụng trong thời hạn trên 2 năm một chút.
  3. Reserva: Loại vang trẻ, tương đối ngon hoặc đôi khi rất ngon. Thường được ngâm ủ trong thùng gỗ sồi từ 6-8 tháng kể từ khi thu hoạch nho. Sau đó lại được tiếp tục giữ trong chai thêm 6 tháng nữa trước khi bán. Nếu bảo quản tốt có thể sử dụng trong thời hạn 4 năm.
  4. Gran Reserva: Loại vang ngon hoặc rất ngon. Thường được ngâm ủ trong thùng gỗ sồi từ 12-18 tháng kể từ khi thu hoạch nho. Sau đó lại được tiếp tục giữ trong chai thêm 1-2 năm nữa trước khi bán. Nếu bảo quản tốt có thể sử dụng trong thời hạn 8 năm.
  5. Family Collection: Loại vang rất ngon, cao cấp mà không phải nhà sản xuất vang có thể làm được. Loại vang này cũng tương tự như Gran Reserva hoặc đôi khi cao cấp hơn một chút.
  6. Icon Wines:  Loại vang cao cấp nhất mà chỉ có ít nhà sản xuất có thể làm ra được. Những trái nho được chọn lựa kĩ lưỡng bằng tay từ những cây nho trên 20 tuổi đời, được ngâm ủ kỹ trong thùng gỗ sồi từ 2 năm, sau đó ủ tiếp trong chai 2-3 năm trước khi bán ra thị trường.

Các giống nho trồng ở Chile


Ngành xác minh chủng nho là một ngành khoa học đang rất phát triển ở Chile. Ý thức về vị thế độc đáo của mình khi là một quốc gia sản xuất rượu vang nhưng lại chưa bị ảnh hưởng bởi dịch rệp ăn rễ nho, Chile đã áp đặt một quy trình cách ly đặc biệt nghiêm ngặt đối với các nguyên liệu thực vật nhập khẩu. Điều này nhằm duy trì sự cô lập của các gốc nho trồng ở Chile, tránh sự lây nhiễm của sâu bệnh. Chất lượng và bản sắc của cây nho được trồng ở Chile là ví dụ điển hình nhất.

Chẳng hạn, đa số các cây nho được người Chile gọi là Sauvignon gần như chắc chắn là giống nho Sauvignon Vert hay Sauvignonasse và đôi khi là Sauvignon chứ không phải giống nho quen thuộc hơn Sauvignon Blanc. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ (nhưng đang ngày càng tăng) là Sauvignon Blanc, chủ yếu dựa trên các dòng vô tính được nhân bản ở California và được trồng vào đầu những năm 1990.

Cũng tương tự như vậy, giống nho từng được gọi là Merlot ở Chile trên thực tế lại là giống nho Carmenere, một giống nho  Bordeaux cũ lần đầu tiên được xác minh vào năm 1994 (hoặc đôi khi là sự trộn lẫn của Merlot và Carmenere). Ngành xác minh chủng nho phát triển, đã và đang giúp phân biệt nho Merlot với nho Carmenère. Kể từ giữa những năm 1990, tên nho Carmenère đã xuất hiện trên các nhãn rượu vang và ngày càng được tôn trọng, cả trên tư cách một giống nho đơn chủng lẫn một giống nho thành phần trong các loại vang trộn.

Cho đến những năm 1990, giống nho được trồng phổ biến nhất ở Chile là giống nho Pais có vỏ sẫm màu, chỉ có thể tìm thấy ở Chile và được cho là hậu duệ trực tiếp của các gốc nho do những người thực dân Tây Ban Nha mang đến. Số liệu thống kê chính thức ghi nhận có không quá 15.000 ha nho Pais vào năm 2003, chỉ bằng một nửa diện tích trồng so với những năm 1980. Đại đa số chúng được trồng ở các khu vực phía nam Maule và Bío-Bío.

Các khảo sát tương tự cũng chỉ ra Chile có hơn 40.000 ha Cabernet Sauvignon, hiện là giống nho quan trọng nhất cả nước (tăng 3 lần so với 7 năm trước đó), có gần 13.000 ha ”nho Merlor” (và thêm 6.000 ha nho nữa đã được xác định là Carmenère), có hơn 7.500 ha Chardonnay, gần 7.400 ha Sauvignon, và chỉ hơn 6.000 ha Moscatel Alejandria.

Những năm đầu thế kỷ đã chứng kiến ​​sự gia tăng đáng kể trong việc trồng giống nho Syrah với gần 2.500 ha và Pinot Noir với hơn 1.400 ha vào năm 2003. Trong cơn sốt trồng nho đó, người ta đã trồng ít nhất 47.000 hecta nho trên các vùng đất màu mỡ của Chile từ năm 1997 đến 2003, với các giống nho phổ biến nhất Merlot, Cabernet Sauvignon, Sauvignon Blanc, Chardonnay, Syrah, và Pinot Noir.

Lịch sử sản rượu vang Chile


Du nhập

Giống nho vinifera cùng các phương pháp chế biến rượu vang từ nó, được người Tây Ban Nha mang đến châu Mỹ vào giữa Thế kỷ 16. Nhà thám hiểm Hernán Cortés đã đem những cành nho, mà đúng hơn có thể là những hạt nho, trực tiếp từ Tây Ban Nha sang Mexico. Những chai rượu vang Nam Mỹ đầu tiên đã được làm ra từ đó.

Tuy vậy, không ai biết chắc những cây nho đầu tiên trồng Chile vào khoảng những năm 1550 được chuyển sang từ Mexico, hay được mang trực tiếp từ Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha tới cả. Những cây nho được mang tới trồng bởi những người mới đến Nam Mỹ định cư muốn sử dụng rượu vang cho các Lễ Thánh của mình. Tài liệu ghi lại những giống nho đầu tiên được trồng gồm có Muscatel, Torontel, Albilho, Mollar, và một loại nho đỏ phổ thông nào đó.

Những vườn nho đầu tiên

Một số vườn nho đầu tiên bị phá hoại bởi các thổ dân Anh Điêng, chủ yếu ở các khu vực Miền nam đất nước. Mặc dù vậy tại thủ đô Santiago, việc sản xuất nho diễn ra liên tục trong vòng hơn bốn thế kỷ. Vào thế kỷ 17, chính quyền Tây Ban Nha đã cố gắng bảo hộ ngành xuất khẩu rượu vang sang Nam Mỹ bằng cách ban hành lệnh cấm trồng các vườn nho mới. Tuy nhiên điều này không đạt được nhiều kết quả. Vào năm 1678, thị trưởng Chile đã đề xuất dỡ bỏ lệnh cấm này đồng thời khuyến khích mở rộng các vùng trồng nho nhằm tạo ra các trang trại mới. Vào Thế kỷ 18, rượu vang Chile đã trở nên nổi tiếng thế giới với chất lượng và giá cả phải chăng. Điều đó diễn ra đúng như những lo ngại của các nhà sản xuất rượu Tây Ban Nha.

Thế kỷ 19

Các giống nho được canh tác và kỹ thuật sản xuất rượu vang Chile hồi đầu Thế kỷ 19 đã được ghi chép lại rất kỹ. Có thể nói là chúng khá sơ đẳng theo tiêu chuẩn hiện đại ngày nay. Rượu vang Chile khi đó thường được làm ngọt thêm, chẳng hạn với nước ép nho cô đặc đun sôi. Chile đã cực kỳ may mắn vào thời đó, khi Claudio Gay, một quý ông người Pháp thuyết phục chính phủ Chile thiết lập vùng Quinta Normal, một khu vực bảo tồn tất cả các giống cây bản địa quý, bao gồm các giống nho có nguồn gốc Châu Âu. Điều này có nghĩa Chile có một kho lưu trữ các gốc nho Vinifera của riêng mình, được bảo vệ trong một khu vực cách ly nghiêm ngặt, trước khi các đại dịch sâu bệnh khủng khiếp cuối thế kỷ 19, như bệnh phấn trắng hay rệp ăn rễ nho, lan đến. Mặc dù vậy, các công ty tư nhân mới đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ngành công nghiệp rượu vang cả nước.

Hiện đại hoá

Lúc này, khi đã giành độc lập khỏi Tây Ban Nha, những người Chile giàu có mới bắt đầu du lịch và trải nghiệm thế giới rộng lớn bên ngoài. Họ có dịp thưởng thức những chai rượu vang tuyệt hảo châu Âu với hương vị khác biệt hoàn toàn so với thứ vang đồng quê làm từ nho Pais hay nho Moscatel mà họ vẫn uống. Một trong những người đó là Silvestre Ochagavía Echazarreta. Ông đã hợp tác với một nhà thổ dưỡng học người Pháp để nhập về Chile một loạt các giống nho mới, mà ngày nay chúng là những giống nho kinh điển và được kính trọng trên toàn thế giới.

Chính những gốc nho này đã tạo nên cơ sở cho nền công nghiệp rượu vang Chile hiện đại. Một tầng lớp các nông dân quý tộc xuất hiện ở Chile, trong số ấy có những người với gia sản kếch sù. Việc sở hữu một vườn nho trên một mảnh đất màu mỡ ngoại ô Santiago là biểu tượng của sự thành công ở Chile hồi giữa thế kỷ 19.

Chẳng bao lâu sau Chile trở thành nước sản xuất rượu vang tăng trưởng duy nhất trên thế giới, cả về mặt chất lượng lẫn doanh thu. Trong khi hầu hết các quốc gia sản xuất rượu vang khác đều bị tàn phá nặng nề bởi dịch phấn trắng và rệp ăn rễ cây, ngành công nghiệp rượu vang Chile chẳng hề chịu ảnh hưởng gì. Với lợi nhuận quá lớn, lại chủ yếu nằm trong tay tư nhân trong khi mức tiêu thụ rượu vang trên đầu người cao, ngành sản xuất rượu vang Chile bị đánh thuế ngày càng tăng và bị chèn ép một cách phi lý vào đầu thế kỷ 20.

Khủng hoảng và hồi sinh

Nhu cầu nội địa đối với các loại rượu vang Chile phổ thông sụt giảm và giá rượu vang tụt dốc vào những năm 1970 và đầu những năm 1980. Khoảng hơn một nửa diện tích trồng nho bị phá bỏ, kể cả những khu vực có khí hậu cực kì thuận lợi cho việc trồng nho. Sự bất ổn về kinh tế và chính trị của Chile đã kìm hãm sự phát triển của ngành công nghiệp tiềm năng này.

Mãi cho đến khi các chính sách thị trường tự do được thiết lập, cùng với sự trở lại của chế độ dân chủ vào những năm 1980, ngành sản xuất rượu vang Chile mới được hồi sinh trở lại. Giữa năm 1987 và 1993, hơn 10.000 hecta đất trồng nho đã được canh tác với các chủng nho nổi tiếng thế giới. Các khoản tiền đầu tư đáng kể được đổ vào công nghệ sản xuất rượu vang. Toàn bộ trọng tâm của nền công nghiệp rượu vang Chile được chuyển từ “số lượng” cho thị trường nội địa sang “chất lượng” cho các thị trường xuất khẩu.

Các khu vực và thổ nhưỡng 


Phần lớn rượu vang Chile được sản xuất ở các vườn nho phía Nam. Một số loại được sản xuất ở những khu vực mát mẻ, chịu nhiều ảnh hưởng từ Thái Bình Dương, thuộc phía Bắc thung lũng Coquimbo. Những khu vực này thường xuyên nóng và khô, khiến chúng trở thành những vùng sản xuất rượu vang thường (table wine) rất quan trọng. Từ phía Bắc đến phía Nam, các vùng trồng nho quan trọng nhất của Chile là:

Coquimbo: bao gồm Elqui và Limari.

Aconcagua: bao gồm Aconcaqua, Casablanca, San Antonio, Leyda.

Central Valley: bao gồm Maipo (trong đó có Santiago, Talagante, Pirque, Puente Alto,  Isla de Maipo, Buin), Rapel (trong đó có Cachapoal, Colchaqua), Curico (trong đó có Teno, Lontue), Maule (trong đó có Talca, San Clemente, San Javier, Parral, Linares, Cauquenes).

Miền Nam: bao gồm Itata, Bio-Bio, Malleco.

Bản đồ vùng rượu vang Chile

Nói chung, các vườn nho Chile được trồng trên những vùng đất phẳng, màu mỡ với nguồn nước tự nhiên đầy đủ hoặc thông qua tưới tiêu, vì thế hệ thống rễ nho mọc tương đối nông. Các loại đất phù sa chiếm chủ yếu, phổ biến ở Aconcagua và cũng xuất hiện ở Maipo, mặc dù ở đó cũng có đất sét và đất mùn. Ở vùng Maipo và huyện Cachapaol thuộc phía bắc Rapel, đất trồng nho là hỗn hợp của đất sét, đất mùn và cát, một số vùng có thể bị ảnh hưởng bởi xói mòn đất do địa hình nằm trên sườn dốc. Đá phấn được tìm thấy trong đất một số nơi thuộc phía nam Rapel và ở Maule, trong khi đất núi lửa trải dài từ phía nam Curico tới khu vực Bio-Bio, chỉ bị ngắt quãng bởi vùng cát và đất mùn quanh khu vực Linares. Một số nơi thuộc Cachapoal, Colchaqua và khu Miền Nam chịu lụt khá nặng nề, có thể hình thành các khu vực đầm lầy, và do đó không cần tưới.

Kỹ thuật canh tác


Tưới tiêu

Tưới tiêu là một nhiệm vụ thiết yếu tại hơn một nửa số vùng trồng nho ở Chile. Cũng như ở Argentina, điều này được thực hiện nhờ vào băng tuyết tan chảy trên núi Andes, theo đó nước đổ về hệ thống kênh rạch sông ngòi. Hệ thống tưới nhỏ giọt chỉ được giới thiệu vào đầu những năm 1990. Do nguồn cung cấp nước dồi dào và sẵn có, hầu hết các vườn nho được tiếp cận đầy đủ nước trong cả vụ thu hoạch. Những vùng được tưới tiêu nằm chủ yếu ở phía Bắc thung lũng Central, ở bên trong các khu vực Aconcagua, Maipo, Rapel, Maule và Curico. Trên sườn dốc giáp biển của các khu vực phía nam, lượng mưa tự nhiên thường đủ nên không cần phải tưới thêm.

Thu hoạch nho trung bình ở Chile là vào khoảng 4 tấn một mẫu. Nếu tưới nước nhiều quá, các loại nho cho năng suất cao ấy sẽ khó chín. Điều này đặc biệt đúng với những chủng nho có thời điểm chín tương đối muộn, chẳng hạn như Cabernet Sauvignon hay Carménère.

Bón phân

Bón phân cũng thường được sử dụng, tuy nhiên phải điều chỉnh hợp lý để tránh cây phát triển quá mức dinh dưỡng. Ở các khu vực có kỹ thuật canh tác phát triển, người ta sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt để thực hiện việc bón phân kèm theo.

Kỹ thuật cắt, tỉa, uốn giàn

Các kỹ thuật trồng nho tiêu chuẩn của người Tây Ban Nha, chẳng hạn như trồng theo bụi thẳng đứng, sau đó uốn thành những dạng xoắn tròn, đã phổ biến từ khi người Tây Ban Nha chinh phục vùng đất này. Tuy nhiên ngày nay chúng thường chỉ giới hạn trong việc sản xuất vang Pais, chủ yếu ở phía Nam.

Những người nhập cư Bordeaux sau đại dịch rệp ăn rễ nho đã mang đến Chile kỹ thuật bắc giàn nho vào cuối thế kỷ 19. Điều này góp phần tạo nên hai hướng phát triển khác nhau. Đầu tiên, các loại nho mọc thấp và sát nhau sẽ được tỉa hay xén mắt với độ dày gấp đôi, chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng của nho thành phẩm. Điều thứ hai, phổ biến trong việc sản xuất các loại vang phổ thông, đó là các cây nho được trồng cách xa nhau hơn. Điều này cho phép áp dụng cơ khí hoá vào canh tác. Vào những năm 1990, hầu hết các cây nho trồng mới đều trồng theo hàng dài, hẹp, cách nhau từ 2 đến 2.5 mét, trong đó các cây nho trồng cách nhau khoảng 1.2 đến 1.5 mét.

Thu hoạch

Thu hoạch nho bắt đầu vào cuối tháng Hai với các chủng nho chín sớm như Chardonnay, tiếp tục cho tới cuối tháng Tư với Cabernet Sauvignon và có thể kéo dài tận tới tháng Năm với Carmenere.

Phòng trừ sâu bệnh

Không có người trồng nho Chile nào cảm thấy cần phải nghiên cứu về ngành rễ cây, bởi quốc gia này miễn nhiễm khỏi nạn rệp ăn rễ nho (phyloxera). Một số dự án ghép gốc nho được tiến hành, tuy nhiên nhằm giúp các loại nho du nhập thích nghi với thổ nhưỡng mới. Các vườn nho ở Chile phổ biến loại giun tròn, và sức chống chịu của các chủng nho du nhập thấp hơn nhiều so với chủng nho Mỹ, do đó nhà chức trách gợi ý việc ghép chúng lên các gốc nho Mỹ sẽ giúp xử lý vấn đề này.

Có thể Chile nổi tiếng với việc không có rệp ăn rễ nho, tuy nhiên dịch Phấn trắng và các loại nấm gây hại là vấn đề nhức nhối và tốn kém nhiều chi phí cho người trồng nho nơi đây. Dịch phấn trắng xuất hiện lần đầu tiên ở một số vùng trồng nho vào mùa trồng nho năm 1997-1998 do ảnh hưởng của El Nino. Tuy nhiên, việc thiếu mưa vào mùa hè khiến cho việc lan tràn dịch bệnh ít xảy ra hơn so với nhiều khu vực khác.

Kỹ thuật làm rượu vang Chile


Có lẽ Chile đang trải qua một trong những cuộc cách mạng công nghệ lớn nhất thế giới rượu vang. Trong nhiều thập kỷ, các nhà máy rượu vang Chile không đầu tư gì nhiều. Thị trường nội địa khi đó vẫn hài lòng với những chai vang trắng bị ôxy hoá và những chai vang đỏ phai màu được sản xuất theo phương thức truyền thống. Tất cả rượu vang đều được làm ra từ những quả nho vận chuyển trong những xe tải với thời tiết oi bức, dễ dàng bị ôxy hoá. Sau đó chúng được đưa đến những nhà máy mà ở đó thiếu thốn các trang thiết bị kiểm soát nhiệt độ. Chúng được sản xuất trong những thùng chứa bằng xi măng hoặc gỗ rẻ tiền dùng đi dùng lại hàng chục năm.

Vào cuối những năm 80, ngành công nghiệp rượu vang Chile đã thực hiện cam kết dài hạn nhằm đưa Chile thành một nước xuất khẩu rượu vang. Họ bắt đầu mua sắm các trang thiết bị phù hợp để thực hiện mục đích đó. Các nhà đầu tư bên ngoài đã hỗ trợ bằng cách nhập khẩu trang thiết bị và công nghệ hiện đại. Và kể từ đó, các nhà máy rượu vang Chile tràn ngập các loại máy ép nho, các thùng gỗ sồi, thùng ủ thép không gỉ và các máy lọc hiện đại. (Một trong các hãng rượu vang lớn, Santa Rica, chẳng hạn, đã coi việc mua 7.000 thùng gỗ sồi kiểu Mỹ và Pháp vào năm 1988 như một cột mốc quan trọng trong lịch sử doanh nghiệp.) Thông thường thì những cải tiến cần thiết nhất lại là những cải tiến đòi hỏi công nghệ ít phức tạp nhất: sự du nhập của các thiết bị làm mát hầm chứa.

Nền công nghiệp sản xuất rượu vang Chile


Hầu hết các công ty xuất khẩu rượu vang lớn, phần nhiều trong đó được điều hành bởi hậu duệ của những nhà sản xuất rượu vang giữa thế kỷ 19, có trụ sở đặt tại thủ đô Santiago hoặc khu vực Maipo lân cận. Những công ty này thường sở hữu nhiều nhà máy sản xuất và nhiều vườn nho khác nhau. Mặc dù vậy, một trong những cách thức thường được tiến hành là mua nho nguyên liệu từ nhiều người trồng khác nhau.

Nhiều nhà đầu tư ngoại quốc đã đến Chile, có lẽ do bị hấp dẫn bởi giá đất, chi phí xây dựng vườn nho và chi phí điều hành tương đối rẻ ở đây. Tuy nhiên họ cũng phải đánh đổi với chi phí cao trong việc nhập khẩu máy móc và thiết bị phức tạp từ các nước phát triển sang Chile. Các nhà đầu tư ngoại quốc tiêu biểu đến từ California (Mondavi), Pháp (Chx Mouton và Lafite-Rothschild,…), Tây Ban Nha (Torres). Tuy nhiên vào giữa những năm 1990, nhiều công ty rượu vang Chile lớn lại chuyển đầu tư sang Argentina, do giá đất và chi phí sản xuất còn rẻ hơn nữa của vùng đất dọc theo dãy Andes này.

 


Trích dẫn

[1] Reuters – Climate change sends Chile’s wine industry southward – https://www.reuters.com/article/us-climatechange-summit-chile-wine-idUSKBN0TC18W20151123

 


Đồ Uống Nhập Khẩu – Rượu Vang Nguyên Thịnh 
Địa chỉ: 135 Trần Hữu Tước, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: +84 93 638 88 31
email: contact@thinhvang.com
Websites:
http://douongnhapkhau.com
https://thinhvang.com
Facebook fanpage: Đồ Uống Nhập Khẩu